Trang chủ • Khuyến đọc • Đi đọc đi • CAO VỌNG CỦA BỌN THANH NIÊN AN NAM

CAO VỌNG CỦA BỌN THANH NIÊN AN NAM


Quyển sách là tập hợp 11 bài viết và diễn thuyết của Nguyễn An Ninh trong bối cảnh thuộc địa, với điểm nhấn là bài diễn thuyết “Lý tưởng của thanh niên An Nam”, được ưu ái đặt ở chương 1. Đọc bài diễn thuyết này, tôi rút ra ý chính của ông là An Nam cần một học thuyết riêng để trau dồi tinh thần. Ông lập luận: một nước tự chủ mà học thức vẫn còn nhờ một nước khác thì không hoàn toàn tự do, bởi học thức là cái hồn của một đoàn dân. Và cái học thức ấy không nên được vay mượn và tôn thờ thái quá. Giống như cái đạo Khổng ở An Nam, mà theo ông thì đã suy, không còn hợp phong thổ của An Nam nữa. Ông dẫn ở Tàu, nếu các văn sĩ, đặc biệt dưới nền học thức Khổng, viết sách để nuôi tinh thần nhân dân, thì ở An Nam đạo Khổng trong bối cảnh tranh tối hóa ra lại làm hại cho xã hội. Cái hại ở đây là cái u mê, u mê đạo Khổng cho đạo Khổng là nhất, lấy đạo Khổng để lý giải các nền học thức khác, điều mà theo ông khiến người trí thức hóa ra hẹp hòi. Ngoài Khổng học, An Nam bấy giờ còn có Tây học. Ông nêu lên thực trạng người học Tây trong nước chủ yếu để làm nô lệ cho nhà nước, khó bề theo kịp trí thức Âu Tây. Bởi thế, An Nam cần hai nền học thức, cả Á Đông và Âu Tây. Hai nền học thức này giống như hai loại thuốc, thuốc chống nhau mới sinh ra thuốc mới. Nguyễn An Ninh cũng nêu rõ là ông nghịch với cái tính ưa làm quan và cái sự học để trở thành thượng lưu trưởng giả của một bộ phận người An Nam. Ngày nào thanh niên hết cái thói tôn sùng những cái hữu danh như bằng cấp, ngày nào dân ta ngừng quỳ lại trước uy nghiêm, thì ngày đó việc khó gì cũng làm được, kể cả kiến tạo nền học thức riêng.

Con đường ông vạch ra cho thanh niên An Nam thứ nhất là cái lòng lo cho tinh thần nhân dân, chứ không phải quốc sự. Cái lòng lo đó phải là cái đại lo. Cái xiềng xích đầu tiên cần xóa là cái xiềng xích về tinh thần. Nhiệm vụ của người trí thức nên là lo bề dạy dân, là học hiểu trong dân để mà biết có được tự do rồi sẽ làm gì, rồi dụng cái lực của cả một nước thì lúc đó vận mạng nước mới nằm trong tay mình. Thanh niên cần có cao vọng mới và hành động mới, vì tiên nhân đã ở rất xa ta rồi. Nhưng trước hết phải học hiểu, trau dồi cái trí, cái tài đức, phải mơ ước, đồng thời cũng phải cẩn tắc, biết nghi ngờ sự giả dối, rồi sau đó hành động. Đã hành động thì phải ráng sức, trong lúc ráng sức mà gặp khó thì phải nhọc thân ráng sức hơn nữa, bởi chẳng có cái khó nào khó bằng cái khó trong bản thân ta. Ngược với cái lòng lo đó là chuyện quốc sự. Ông cho rằng quốc sự làm con người hao mòn dần; tinh thần non yếu của thanh niên có thể sa lầy vào đó và rất dễ hao sức. Bởi thế, con đường thứ hai ông vạch ra cho thanh niên là hãy tìm cách vuột khỏi xã hội thấp hèn một lúc, bước ra thế giới quan sát và học hỏi và quay về dụng những thứ đó vào nước ta, làm cho tinh thần của dân đi lên. Lúc đó hai chữ “quê hương” và “ái quốc” hóa ra cao thượng.

Ngoài cái cao vọng nói trên, quyển sách còn bàn về những khía cạnh khác mà nếu đặt trong bối cảnh ngày nay thì vẫn còn tính cập nhật để ta suy ngẫm. Ví dụ như ông nhắc đến cái khế ước xã hội của Rousseau, với lập luận chính là cường lực không sinh ra quyền lực, chỉ có pháp quyền mới được ép người, mà quyền pháp thì do giao kết xã hội mà ra. Rồi ông mô tả xã hội Ấn Độ trước khi Phật Thích Ca ra đời. Xã hội phân tầng giai cấp rõ rệt, sinh ra thuộc tầng lớp nào thì thế hệ con cháu sẽ mãi ở trong tầng lớp đó. Thích Ca sau đó lo bề dạy dân cái đạo đức, làm cái tinh thần dân lên cao. Nguyễn An Ninh lấy câu chuyện này, theo tôi, chắc hẳn là để nói lên cái điều là An Nam ta, bất kỳ thời kỳ nào, cần nhiều bậc đại nhơn để nuôi tinh thần dân, giúp dân thoát khỏi cái yếu hèn để còn giật lại vận mệnh của mình.

Ông còn nói nhiều về hai khía cạnh kinh tế và khoa học. Về kinh tế, ông đi vào làm rõ bản chất của việc làm chủ – làm công, chuyện trồng bông của thực dân, để củng cố cho cái ý: kinh tế mà phụ thuộc vào ngoại quốc thì số phận nô lệ là không tránh khỏi. Người nước ta chưa đủ gan đủ sức để giành dân quyền, nhân quyền thì chuyện giật lại kinh tế hãy còn rất xa. Về khoa học, ông lại lấy câu chuyện về sao chổi để củng cố cho lập luận khoa học có thể phá dị đoan. Rõ ràng là khi hiểu được gốc gác cội rễ của vấn đề thì người ta không còn sợ vấn đề đó nữa, giống như khi các nhà khoa học tìm ra quy luật của sao chổi, dân bên Âu Tây không còn sợ cái “tai họa” đó nữa. Tất cả chẳng phải là những điều người nước ta nên học hỏi hay sao?