
Đọc xong quyển này, người viết nhận ra bản thân biết ít về mảnh đất Nam Bộ quá, về cả văn hóa và sinh thái, nói chi về những cảm quan ở tầng sâu. “Biết” ở đây nghĩa là nhận thức được những đặc tính cố hữu của mảnh đất quê, những sự việc xảy ra và thực trạng trước mắt ở vùng đất ấy. Thiếu cái sự biết đó là điểm yếu của mình.
Còn yếu điểm mình nhìn nhận được ở quyển sách này là: tuy rất tỏ tường về vấn nạn sinh thái ở vùng đất hạ Mekong nhưng tác giả không suy xét ở góc độ nhà nghiên cứu, mà chỉ gợi mở vấn đề, khiến ai băn khoăn sẽ tiếp tục suy nghĩ sâu hơn, ai suy nghĩ xa hơn sẽ hành động, tức là chỉ khơi chứ không kêu gọi người khác phải làm gì, ngoài việc thương lấy mảnh đất quê – có vẻ giống với tinh thần triết Đông.
Vậy khơi ở đây là khơi gì? Khơi thực trạng, khơi lòng yêu thương con người vạn vật nói chung. Lấy ví dụ, tác giả kể chuyện cây mắm đen trong tâm thức người dân Đất Mũi, “Cây mắm sống thân mềm mại và nó chấp nhận đứng đầu sóng ngọn gió để giữ đất gìn bờ. Nhưng một khi cây mắm bị người bức tử thì tức thời, thân mắm biến săn chắc và hóa ra cứng ngắc. Vì sao vậy? Chỉ có người sống chết với miền đất này mới biết rõ vì sao!” (lời cô Hai Ba Khía). Thêm nữa, giữa trùng vây nước mặn thì tìm nước ngọt ở đâu ra? Hỏi người Đất Mũi ắt sẽ biết: nó nằm trong bọng cây mắm do đặc tính của nó là trữ nước mưa. Còn người sẽ không bao giờ lấy hết nước ngọt từ cây mắm mà vẫn chừa lại cho chồn và mấy loài sinh vật khác. Nhờ hiểu cây thương đất nên người Nam Bộ lúc nào cũng “khai thác” vừa đủ, để dành cho đời sau, bền vững cho cả cây và người. Vậy đó, người Nam Bộ hiểu rõ mảnh đất mình đang sống, nhờ hiểu nên thương, từ thương mới hành động để hòa hợp, nhờ thế mà biết “đủ”. Cái kiểu cách hiểu-thương-hòa hợp này thiết nghĩ cũng hợp lý trong bất kì mối quan hệ nào trong cõi hoàn vũ – giữa người với người, người với thiên nhiên, người với vũ trụ.
Mỗi bài khảo cứu về sinh thái Nam Bộ xen kẽ một truyện ngắn minh họa. Ở phần lớn truyện ngắn, rất dễ nhận thấy tác giả thổi vào con vật cái hồn người cốt để người đọc thấy rằng người cũng như vật, vật cũng như người, không ai đứng trên ai, “Ở quê tôi mùa nào cũng có cá bống…nhưng không có bống nào yêu thương con và thủy chung với cội nguồn hơn cá bống dừa”. Và mình cũng nghĩ việc thổi hồn người vào con vật như thế cũng là để xoáy mạnh vào “nỗi đau sinh thái” của vùng đồng bằng, “Tôi khóc tôi hay tôi khóc cho tàn kiếp bống dừa quê?”. Theo cảm nhận của mình, các câu chuyện kể ở đây cũng không phải kiểu “đi tìm thời gian đã mất” vì những gì đã mất ấy không thể tìm lại được nữa, mà là kiểu kể để thức tỉnh, sau đó phản tỉnh và hành động. Ví như giờ đây, còn mấy ai biết bướm rồng đuôi trắng, cá bống kèo tự nhiên mặt mày ra sao nữa đâu, “Bây giờ dẫu có bỏ công đi tìm đỏ con mắt, cùng không dễ gì gặp con cá bống kèo thiên nhiên. Ngần ấy năm thôi, con người tàn phá và xoay chuyển môi trường sinh thái biến đổi chóng mặt và ngợp thở.”
Là người con Nam Bộ gắn bó với mảnh đất mến yêu, Trần Bảo Định nhìn khắp chốn, từ Đông sang Tây để so sánh, đối kết từ đó làm tỏ bản diện quê hương. Theo ông, lối sống minh triết sẵn có của người Nam Bộ hay quan niệm sinh thái nhân văn của người Nam Bộ là điều nên được thế giới học hỏi trước thực trạng sinh thái đang đi xuống dưới tác động phần nhiều của nền kỹ nghệ.
Nói qua nói lại, nói ngược nói xuôi, thiết nghĩ mình cũng nên cho các bạn ở đây cảm được tí gì đó tinh thần của quyển sách, nhỉ. Mình xin trích một đoạn của chương 1, một góc nhìn nhận mới đã kéo sự thích thú của mình đến tận trang cuối cùng:
Truy nguyên nguồn gốc vấn nạn sinh thái, ta quay lại với vấn đề con người. Quay lại với con người, thực chất là quay về với nhận thức của con người. Đặt vào đời sống tinh thần, lý Duyên khởi có thể xem như liệu pháp tâm hồn. Trước hết, liệu pháp này làm thức tỉnh vô minh của con người, thấy được cơ chế vận hành duyên sinh Duyên khởi, bồi tụ dần dà hoặc khơi mở tức thời nhận thức con người. Sau đó, từ nhận thức khai mở đến áp dụng trong đời sống, xây dựng nếp sống chan hòa với thiên nhiên, biết ơn môi trường sống, yêu thương vạn vật muôn loài.
