
Tôi chưa có chủ ý rằng mình sẽ bước bất kỳ một bước chân nào vào trong vùng đất của hiện tượng học. Tuy nhiên, bằng một cách nào đó, không thể chối cãi được rằng, ít nhiều, tôi đã thực sự bàn về nó qua các bài viết và qua nhật ký của mình. Điều đó cho thấy, hiện tượng học luôn chiếm một phần nào đó vô cùng đặc biệt khiến tôi phải quan tâm đến, dù vô tình hay hữu ý.
Hôm nay, tôi đã tiếp tục đọc một trong những phần mà tôi thích nhất của Jean-Paul Sartre trong tác phẩm Hữu thể và hư vô (L’Être et le Néant) – bàn về “cái nhìn”, “bị nhìn” và “sự xấu hổ”. Tôi đọc lại phần này vì chợt nhận ra, mình cũng đang rơi vào một chiếc “bẫy” tương tự của hiện tượng học, ở cái nơi mà con người vừa là chủ thể tự do, vừa bị trói buộc trong chính ánh nhìn của chủ thể khác; vừa tồn tại-tự-mình, vừa tồn tại-cho-người-khác.
Tất nhiên, trong khuôn khổ của một bài viết, mà tôi còn không chắc có ai quan tâm và đọc đến nó hay không, thì tôi sẽ phân tích kỹ về phần này. Vả lại, theo tôi nghĩ, chúng ta đang hiểu các triết gia theo cách chúng ta muốn hiểu hơn. Có những đoạn, Sartre viết làm tôi không hiểu gì cả; có những từ dịch hoặc do ông có ý muốn viết như vậy nhưng tôi không muốn dùng mà muốn dùng theo kiểu khác. Vì thế, để trung thành với tinh thần tự do mà triết học Sartre đã cổ vũ, bài viết này sẽ được trình bày như một lựa chọn tự do của tôi và tôi sẽ tự chịu trách nhiệm cho mọi sự hiểu sai (nếu có) của mình.
Khi tôi viết những dòng này, tôi vừa quan tâm cũng vừa không quan tâm đến chủ đề mình đang nói đến: nghĩa là tôi đang viết trong trạng thái gác bỏ sự lo âu, nhưng đồng thời lại bàn về chính sự âu lo của nhân loại trước ánh nhìn của tha nhân. Tóm lại, tôi sẽ viết về những gì tôi cảm nhận về nhân loại.
Tôi luôn cảm thấy âu lo về sự hiện hữu của tha nhân và “ánh nhìn” của họ. Tôi đã từng viết như thế này: “Tôi ngoảnh mặt bước đi, quay lưng về phía dòng người tấp nập, cúi gằm mặt xuống dưới, tránh để cặp mắt mình nhìn vào những người đàn ông, đàn bà xung quanh.” Đó là một trong những biểu hiện rõ ràng cho sự âu lo đó.
Có thể bạn đọc sẽ trách hoặc khuyên răn với tôi rằng: “Tôi không đặc biệt để người ta phải nhìn đâu!” Tôi không phản bác điều đó, thậm chí tôi còn khẳng định điều đó là đúng đắn nữa. Nhưng, tôi cũng không thể nào phủ định nổi sự hiện hữu của tha nhân chung quanh mình. Cũng không có gì ngăn cản nổi suy nghĩ của tôi về sự hiện hữu của “ánh nhìn” của tha nhân. Và như vậy, tôi cũng không thể ngăn cản nổi sự âu lo của mình về những hiện hữu ấy.
Tôi là một người hay [ưa thích] ngắm nhìn dòng người qua lại. Có một vài người đi qua, tôi đã kịp gán cho họ một ý nghĩa nào đấy mà tôi tự biện. Nói theo Sartre thì tôi đang tước đoạt tự do của họ. Họ đã bị tôi chụp hình lại chỉ trong một khoảnh khắc nhất thời và giờ đây, họ là những gì mà tôi định nghĩa. Từ đây, tôi lại phản tư về hành động nhìn của mình như một chủ thể. Từ chủ thể hành động, tôi lại suy xét mình như là đối tượng của một chủ thể hành động khác. Một cơn gió âu lo thổi đến cuộc đời tăm tối của tôi.
Cứ như thế, tôi đã chính thức bước vào “địa ngục”, như Sartre đã gọi như vậy. Tôi là gì trong kẻ khác? Tôi sẽ tìm được mình hay sẽ tha hóa vào trong đó? Tôi sẽ nhờ vào người khác để biết được mình?
Nhớ lại ngày trước, tôi đã từng đưa ra một kết luận: “Tự ý thức về Tôi chỉ có thể thông qua cái tự ý thức của không-Tôi. Những cái không-Tôi mới thực sự là những cái phản ánh cái Tôi. Tôi chỉ có thể dự phóng cái bản chất Tôi mà nó muốn-là. Từ đâu tôi dự phóng? Hiển nhiên tôi không thể dự phóng một cái gì tôi đã có sẵn hoặc cố hữu về bản chất trong Tôi. Những gì mà cái Tôi muốn-là chính là những gì cái Tôi đang-chưa-là. Cái Tôi đang-chưa-là ấy không phải tự ý thức của mình đột nhiên ý thức được mà kỳ thực là phải tự ý thức ở cái không-Tôi. Ngay cả trong bản chất của cái Tôi đã có chất liệu từ cái không-Tôi.”
