Trang chủ Khuyến đọc Đi đọc đi “SỰ SỐNG ĐƯỢC KHÔI PHỤC BẰNG VIỆC TRUYỀN DẠY.” – JOHN DEWEY

“SỰ SỐNG ĐƯỢC KHÔI PHỤC BẰNG VIỆC TRUYỀN DẠY.” – JOHN DEWEY


Giới thiệu John Dewey

John Dewey là nhà triết học, tâm lý học, nhà giáo dục học có đóng góp lớn cho phong trào giáo dục tiến bộ của nước Mỹ. Ông sinh năm 1859, tại thành phố Burlington, bang Vermont, Mỹ. John Dewey tích cực nghiên cứu, viết nhiều bài báo khoa học khi làm trợ giảng môn Triết học ở Burlington. Ông đặc biệt dành sự quan tâm của mình cho triết học cổ điển Đức, luận án tiến sĩ triết học của ông là về triết học Kant. Khi bảo vệ thành công luận án của mình, John Dewey làm giảng viên tại khoa Triết học trường Đại học Michigan. Cũng trong thời gian này, ông gặp bài Alice Chipman – người mà đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến suy nghĩ của ông về vấn đề xã hội, đặc biệt là xã hội dân chủ, và cũng chính bà đã có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành ý tưởng sư phạm của ông.

Vào năm 1889, trong thời gian là chủ nhiệm khoa Triết học tại trường Đại học Michigan, John Dewey đã quan tâm đến những vấn đề giáo dục. Năm 1896, John Dewey xây dựng trường thực nghiệm đầu tiên ở trường Đại học Chicago, sau này có tên gọi là Trường học Dewey (Dewey School) và thành công trong việc đưa lý thuyết giáo dục của ông vào thực nghiệm. Trong 10 năm sống tại Chicago (1894 – 1904), John Dewey đã đưa ra những nguyên lý nền tảng cho học thuyết về giáo dục của mình và bắt đầu hình dung ra mô hình trường học phù hợp với những nguyên lý đó.

Bên cạnh đó, John Dewey cũng đã nghiên cứu và cho ra đời nhiều công trình khoa học có giá trị lớn, thể hiện tương đối đầy đủ quan niệm và lý thuyết của ông về giáo dục và các lĩnh vực triết học, đạo đức, tâm lý học. Đến năm 1904, John Dewey rời khỏi Chicago để đến trường Đại học Columbia để nghiên cứu và giảng dạy đến lúc nghỉ hưu vào năm 1930.

Trên thực tế, ảnh hưởng của John Dewey đã vượt ra phạm vi nước Mỹ. Trong những năm ở trường Đại học Columbia, John Dewey đã đi tham quan rất nhiều nước trong vai trò của một nhà triết học, nhà hoạt động xã hội và tư vấn giáo dục.


Giáo dục xét như một tất yếu của sự sống

1. Ngay trong chương I Dân chủ và giáo dục, John Dewey viết: “Sự sống được khôi phục bằng việc truyền dạy”. Ông khẳng định loài người giống với các loại sinh vật khác ở chỗ có thể tự khôi phục. Quá trình tự khôi phục ấy, ở các động vật bậc thấp là nhờ vào bản năng của chúng, bản năng ấy được di truyền qua hệ thống “gen”. Điều đó cũng có nghĩa, việc một con vật có thể tự khôi phục, sinh tồn được từ thế hệ này sang thế hệ khác là nhờ hệ thống “gen” được di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ở con người – cũng giống như động vật -, không một ai trong một nhóm xã hội nào có thể thoát khỏi quy luật tự nhiên là sinh ra và chết đi. Để tồn tại và phát triển, con người – khác ở động vật – không ngừng nỗ lực tác động lên thế giới khách quan, nhận thức thế giới khách quan và qua đó đã tích lũy được các kinh nghiệm. Bất cứ xã hội nào, để được tồn tại thì các thành viên trong xã hội đó phải không ngừng tích lũy tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, tư tưởng, giá trị đạo đức, tiêu chuẩn hành vi. Và để xã hội đó duy trì sự tồn tại thì phải thông qua quá trình truyền dạy. John Dewey đã tóm tắt như sau:

Sự sống sinh vật tồn tại nhờ vào di truyền hệt như đời sống xã hội nhờ vào một tiến trình truyền dạy.

Khi có một nhóm người được sinh ra thì cũng có một nhóm người chết đi, nếu không được truyền dạy thì một tiến trình khôi phục như thế thì ngay cả những nền văn minh nhất cũng sẽ trở lại với tình trạng dã man và nguyên thủy. Điều đó chính là minh chứng cho việc tiến trình khôi phục khôi không phải tự động mà thực sự là nỗ lực của các thế hệ.


2. “Xã hội không chỉ tiếp tục tồn tại nhờ vào tiến trình truyền dạy, nhờ vào sự truyền đạt; mà hoàn có thể nói rằng xã hội quả đang tồn tại trong tiến trình truyền dạy, trong sự truyền đạt”.

Con người sống nhờ chia sẻ những điều chung, để các thành viên trong cộng động nắm bắt được những điều chung cần phải thông qua quá trình truyền đạt. Một xã hội chưa hẳn là tập hợp số đông những người sống gắn bó với nhau về không gian vì một bức thư cũng tạo ra sự gắn kết giữa hai người cách xa hàng nghìn cây số. Cũng chưa thể gọi là xã hội khi những cá nhân làm việc cùng nhau với mục đích chung nào. Tuy nhiên, nếu như họ nhận thức được cái mục đích chung đó, suy nghĩ về nó để điều chỉnh một cách phù hợp thì có thể gọi là cộng đồng. Và không có cách nào khác hơn là phải truyền đạt. John Dewey viết: “Đời sống xã hội không chỉ đồng nhất với truyền đạt; mà mọi sự truyền đạt (và do đó, mọi đời sống xã hội đích thực) đều mang tính giáo dục”.

Chỉ với kinh nghiệm của bản thân thì chưa thể tham gia vào quá trình truyền đạt, bạn cần mở rộng kinh nghiệm của bản thân. Để truyền đạt, người truyền đạt cần hệ thống hóa, khi đó, anh ta cần phải thoát khỏi kinh nghiệm, quan sát nó như thể anh ta là người khác, nỗ lực tìm thấy sự tương đồng giữ anh ta với người được truyền đạt để sự truyền đạt của mình không khó hiểu với người nghe. Nên vì vậy, John Dewey cũng nhận xét: “Truyền đạt, dù dưới bất kỳ hình thức nào, đều giống như làm nghệ thuật”. Và để thực hiện được cái nghệ thuật ấy, xã hội cần phải có chức năng giáo dục cho các thành viên của nó, nếu muốn tồn tại.


3. Phương thức giáo dục có chủ đích dành cho trẻ em. Giáo dục, nếu như xét theo phương thức nó là quá trình con người sống chung với nhau, là ngẫu nhiên, tự nhiên và ta không thể phủ nhận vai trò của nó. Tuy nhiên cách giáo dục như vậy, nó không phải là lý do rõ ràng của cộng động.

Vào thời kỳ sơ khai, khi mọi thứ còn vô cùng lạc hậu, những lao động giản đơn của người lớn có thể trẻ em có thể bắt chước làm theo. Ở giai đoạn này trẻ em sẽ làm theo những thói quen của người lớn, từ cung cách sinh hoạt, đến biểu đạt tâm tư, tình cảm, các quan điểm. Nhưng khi nền văn minh ngày càng phát triển, năng lực lao động ngày càng phát triển, nó dần trở nên phức tạp đến mức trẻ em không thể đơn thuần bắt chước làm theo, hình thức giáo dục như vậy đã không còn phù hợp nữa.

Trẻ em là thế hệ tương lai, giáo dục phải đạt được mục đích đưa trẻ em tham gia vào cuộc sống chung. Từ đây, nó dẫn đến một tiến trình giáo dục chính thức hơn – nhà trường, giáo dục được thực hiện giữa thầy và trò. Nhờ có giáo dục này, trẻ em có thể không làm theo một cách máy móc những gì người lớn làm, mà giờ đây có đủ tài liệu, sách vở và các biểu trưng để được huấn luyện nhằm mục đích tham gia vào sinh hoạt, lao động xã hội.

John Dewey cũng nêu ra cảnh bảo việc chuyển biến như thế – từ ngoài nhà trường đến giáo dục nhà trường – có nhiều nguy cơ. Theo ông, mặc dù học tập bằng việc quan sát rồi làm theo nhưng đó thực sự là những gì chúng học tập được là những thứ tác động trực tiếp và có ý nghĩa đối với đời sống của người học. Giáo dục nhà trường cung cấp những kiến thức dễ bị xơ cứng, trừu tượng, lý thuyết suông. Ông viết: “Ở những xã hội chưa phát triển, ít ra tri thức tích lũy còn được đem ra sử dụng trong thực tiễn; tri thức được chuyển hóa vào trong tính cách; nó chỉ tồn tại trong chừng mực ý nghĩa của nó phù hợp với các mối hứng thú cấp thiết hằng ngày”. Đối với giáo dục trong nhà trường, phần lớn học sinh phải học những kiến thức trừu tượng, ở dạng biểu trưng. Nó làm cho học sinh không cảm thấy mối liên hệ giữa kiến thức với thực tiễn – những gì chung quen thuộc. Các nhà trường đề cao những kiến thức ấy, chưa nhận ra mối hứng thú lâu dài của xã hội.

Theo John Dewey, vấn đề của triết lý giáo dục là phải tìm ra phương thức duy trì sự cân bằng giữa giáo dục ngoài nhà trường (giáo dục không chính thức) và giáo dục nhà trường (giáo dục chính thức). Tôi muốn gọi đây là giáo dục có ý nghĩa. Khi học sinh tiếp thu kiến thức và kỹ năng, những thứ đó nhất thiết phải hình thành một khuynh hướng tính cách phù hợp với xã hội, phải làm phong phú về kinh nghiệm – một kinh nghiệm mà trong đời sống có thể sử dụng được. Và cuối chương I Dân chủ và giáo dục, Dewey viết như sau: “Giáo dục trẻ em mắc phải khó khăn về nhận thức đang gặp một khó khăn ngày càng lớn sau đây: làm sao tránh được sự phân rẽ giữa sự hiểu biết hữu thức bởi chúng ta biết rằng mình đã chủ động học được điều hiểu biết ấy dựa vào một quá trình học tập cụ thể, và sự hiểu biết ngẫu nhiên bởi chúng ta hấp thu nó để hình thành nên tính cách của mình trong quá trình giao tiếp với người khác.” Thoạt nhìn thì cảm thấy khá khó hiểu, nhưng thực ra nó là câu đặt vấn đề về việc cân bằng mà tôi đã nhắc đến từ đầu.


Ảnh hưởng của tư tưởng giáo dục của John Dewey đến lịch sử tư tưởng thế giới:

  • Tư tưởng giáo dục của John Dewey tạo nên cuộc vận động giáo dục tiến bộ ở Mỹ, kết hợp với trào lưu cải cách giáo dục ở châu u đã hình thành cuộc vận động cải cách giáo dục mang tính chất thế giới lần thứ nhất từ đầu thế kỉ XX đến những năm 30 của thế kỉ XX. Cuộc vận động giáo dục của chủ nghĩa tiến bộ của John Dewey ở nước Mỹ đã có ảnh hưởng lớn đến nền giáo dục vừa mới hình thành ở Liên Xô.
  • Thông qua những con đường học tập và nghiên cứu tư tưởng giáo dục của John Dewey của các trí thức Trung Quốc, tư tưởng giáo dục của chủ nghĩa tiến bộ và chủ nghĩa thực dụng đã có những ảnh hưởng rộng rãi ở Trung Quốc.
  • Ngoài ra, John Dewey còn đi thăm nhiều nước khác, góp tiếng nói trong công cuộc cải cách giáo dục ở Nhật Bản, Mexico, Thổ Nhĩ Kỳ… Chính ở những quốc gia này, Dewey đã gây nhiều ảnh hưởng tích cực và quan trọng.