
Knut Hamsun là nhà văn làm đổi mới văn xuôi Na Uy và là người luôn cố gắng thể hiện đời sống tâm hồn vô thức. Tác phẩm Markens Grøde (Nhựa của đất, 1917), kêu gọi trở về với ruộng đồng, đã mang lại cho ông giải Nobel năm 1920. Năm 1918, Hamsun mua một trang trại ở miền Nam Na Uy, sống tại đây, vừa viết văn vừa làm ruộng vườn. Về sau, tư tưởng của ông có nhiều biến đổi. Năm 1934 ông công khai ủng hộ chủ nghĩa quốc xã, khiến ông bị hàng ngàn độc giả trả lại sách. Tuy nhiên, dư luận xã hội Na Uy và thế giới vẫn có thái độ phân biệt rõ ràng giữa lập trường chính trị của ông trong những năm chiến tranh và di sản văn học quý giá của ông.
Dưới đây là đoạn trích truyện ngắn Tiếng gọi đời thường của ông, được biên tập viên NXB Văn học tuyển chọn trong quyển Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel. Mình đặc biệt thích truyện này vì cách ông tạo ra khung cảnh, lối kể chuyện và dẫn dắt người đọc khá cuốn. Và một yếu tố nữa thuộc về người dịch.
Ở gần khu cảng của Copenhagen, có một con đường tên là Vestervold, tuy mới nhưng vắng vẻ. Ở đó chỉ có vài ngôi nhà, mấy ngọn đèn hơi đốt và hầu như không có người qua lại. Ngay cả lúc này, mùa hè, cũng khó mà thấy ai đi dạo ở đó.
Vậy mà, đêm qua tôi đã gặp một chuyện ngạc nhiên trên con đường ấy.
Tôi đang đi loanh quanh thì có một phụ nữ từ phía ngược đi tới. Quanh đó không bóng người. Ngọn đèn đường có đốt, nhưng vẫn tối, tối đến tôi không nhìn rõ mặt bà ta. Tôi thầm nghĩ, hẳn cũng là loài đi ăn đêm đây, và đi qua bà ta.
Đến cuối đường tôi thả bộ vài vòng lại. Bà ấy cũng quay lại và chúng tôi chạm mặt lần nữa. Tôi nghĩ bà ta đang chờ ai đó và bỗng tò mò muốn biết người đó là ai, thế là tôi lại đi qua bà ta.
Khi chạm mặt lần thứ ba, tôi khẽ bỏ mũ và nói:
– Xin chào bà! Chắc bà đang đợi ai?
Bà giật mình. Không – tức là, phải – bà ta đang đợi.
– Bà có phiền khi tôi đi dạo cùng bà cho đến khi người ấy tới không?
Không – ít nhất bà ta cũng không phản đối điều đó, và còn cám ơn tôi nữa. Thật ra, bà ta giải thích, bà chẳng đợi ai cả. Bà chỉ muốn hít thở khí trời, mà ở đây thì yên tĩnh.
Chúng tôi đi loanh quanh bên nhau, và bắt đầu nói về đủ thứ chuyện tầm phào. Tôi giơ tay cho bà khoác.
– Không, cám ơn ông – bà ta nói, và lắc đầu.
Đi dạo kiểu này mãi thì chẳng có gì hứng thú. Tôi không nhìn rõ được bà trong bóng tối, tôi bèn đánh một que diêm để xem đồng hồ. Tôi giữ yên cây diêm và nhìn bà ta.
– Chín rưỡi rồi, – tôi hỏi. – Hay ta ghé vào chỗ nào đó uống cái gì đi? Ở Tivoli nhé? Hay National?
– Nhưng, ông không hiểu là tôi không thể đi đâu được sao?
Và đến bây giờ tôi mới nhận ra bà đeo một tấm mạng đen dài. Tôi, vội vàng xin lỗi, và đổ thừa cho bóng tối khiến tôi không được rõ. Và cung cách bà nhận lời xin lỗi của tôi khiến tôi tin rằng bà không thuộc loại về đêm thường thấy.
– Bà không khoác tay tôi được sao? – Tôi lại đề nghị – nó sẽ làm bà ấm hơn một chút.
Và bà khoác tay tôi. Chúng tôi lại đi lên đi xuống vài vòng nữa, bà bảo tôi xem giờ.
– Mười giờ rồi, bà ngụ ở đâu vậy?
– Ở Gamble Kongevei.
[…]
Tôi đi thẳng tới quán cà phê Bernina và hỏi mượn cuốn danh bạ điện thoại. Tôi tìm xem số nhà đó, đường Gamble Kongevei như thế, như thế… và… cái tên đây rồi. Tôi chờ một lúc tới khi người ta phát hành tờ báo buổi sáng. Tôi vội lật tới trang đăng cáo phó. Và như đã tin chắc tôi tìm thấy tên nàng ở đó, ngay dòng đầu; in chữ đậm “Chồng tôi, năm mươi ba tuổi, đã qua đời hôm nay sau một thời gian dài lâm bệnh”. Lời cáo phó được ghi ngày hôm trước.
Tôi ngồi một lúc lâu và ngẫm nghĩ.
Một người đàn ông lập gia đình. Bà vợ trẻ hơn ông ta ba mươi tuổi. Ông bị một căn bệnh mãn tính dai dẳng. Một ngày đẹp trời kia ông chết.
Và người góa phụ trẻ thở ra một hơi dài nhẹ nhõm.
(Phạm Viêm Phương dịch)
