
“Tại sao dù nỗ lực rất nhiều nhưng tôi cũng không đạt được kết quả gì?”, “Tại sao những người tốt bụng thường chết sớm đến thế?”,… Trong cuộc sống không ít những tình huống như thế buộc ta phải suy nghĩ lại những quan điểm của bản thân về thế giới xung quanh, ta tự hỏi: Liệu vũ trụ có ý nghĩa và vận hành theo những quy tắc logic của nó? Hay ngược lại: vũ trụ thật ra luôn vô nghĩa, thờ ơ và con người chúng ta không khác gì một trò đùa nhỏ nhoi của số phận? Albert Camus (1913-1960) là người tin tưởng vào điều ngược lại! Với ông cuộc sống vô nghĩa! Nhưng khoan đã, đấy không phải là lời kêu gọi buông xuôi số phận mà ngược lại là chìa khóa quan trọng để có thể sống trọn vẹn.
Albert Camus sinh ra trong thời đại nhiều biến động, giữa thời kỳ căng thẳng cực độ giữa Pháp và Algérie. Ông lớn lên trong đói nghèo, trong một gia đình của những kẻ “làm tổn thương nhau dù không hề muốn thế, chỉ vì mỗi người đều đại diện cho cuộc đời đầy tàn khốc và khắt khe của chính họ”. Cứ ngỡ rằng cuộc đời tối tăm ấy sẽ tạo nên con người phẫn nộ và bi quan tột cùng, đi đến đâu cũng chỉ thấy được những mặt xấu và tiêu cực của nhân loại như L. F. Céline hay Emil Cioran [1]. Trái lại, Albert Camus học được cách chấp nhận thế giới trong sự phức tạp khôn cùng của nó.
Camus đã phủ nhận với giới truyền thông rằng ông không phải là nhà hiện sinh. Tuy nhiên, những tác phẩm viết ra đầy suy tư về bản thể, lối viết miêu tả, tin tưởng vào trực giác và cảm xúc thay vì lý trí, ông vẫn được xem là một trong những nhà hiện sinh quan trọng bậc nhất của thế kỉ XX bên cạnh người bạn thân của mình là J. P. Sartre [2]. Albert Camus tự nhận ông là một nhà văn hơn là một triết gia, ông suy nghĩ bằng “ngôn từ hơn là ý tưởng”. Quả thật đúng như vậy, đọc Camus là đi qua những vùng đất khắc nghiệt đầy nắng gió của Algérie, mùa hè và biển cả. Là gặp gỡ những con người lạc lõng, ảm đạm nhưng luôn khao khát hạnh phúc.
Camus gọi “Phi lý” (Absurd) là một loại cảm giác nảy sinh khi con người – một sinh vật luôn mong muốn sự trật tự và logic, lại sống trong một thế giới dường như luôn thờ ơ và chẳng có nghĩa gì cả. Vậy ý nghĩa cuộc sống là gì? Vũ trụ không đưa cho ta một chỉ dẫn nào. Tiền bạc ta dành dụm cả đời, những thành tựu ta nỗ lực đạt được, gia đình và những người ta trân trọng… Tất cả những gì quan trọng nhất bỗng chốc trở nên vô nghĩa khi con người đối diện với cái chết, một lẽ tất yếu của cuộc đời mà không ai có thể trốn thoát, cái phi lý nhất trong những cái phi lý. Sự vô nghĩa của cuộc đời có nhiều nét tương đồng với Sisyphus, người bị các vị thần trừng phạt bằng cách nhốt trong một vòng lặp vô hạn, phải lăn một hòn đá lên đến đỉnh núi rồi lại nhìn nó lăn xuống. Khoảnh khắc hòn đá rơi cũng chính là lúc cuộc chiến giữa trái tim và hòn đá bắt đầu. Sisyphus đứng giữa hai lựa chọn: hoặc dừng lại, hoặc tiếp tục đi xuống chân núi để tiếp tục công việc của mình. Chính tại đây Sisyphus đã dạy cho ta một bài học cao cả. Chàng không dừng lại, vì dừng lại là chấp nhận rằng chàng đã gục ngã trước các vị thần, chấp nhận rằng hình phạt vô nghĩa đã nghiền nát tinh thần chàng, đó là chiến thắng của hòn đá. Thay vì thế chàng tiếp tục lăn hòn đá, không phải trong sự cam chịu, mà là ở việc chàng nhận ra chàng chính là chủ nhân của cuộc đời bản thân. Sisyphus thay vì tuyệt vọng và đầu hàng, chàng thách thức bản thân tìm ra niềm vui trong sự lặp lại tẻ nhạt, sự trừng phạt trở thành một nghĩa vụ thiêng liêng. Và vì vậy, con người chúng ta, trong cái vòng quay điên rồ của cuộc đời, học được ở Sisyphus về việc chấp nhận cái Phi lý, rằng ta có thể sống hạnh phúc và thỏa mãn trong sự vô nghĩa tất yếu của cuộc sống. Đó không phải là lựa chọn của lý trí, mà là lựa chọn của trái tim can đảm và nổi loạn, sẵn sàng cảm thông cho thế giới.
Chú thích
[1] L. F. Céline: Một trong những nhà văn lớn của nước Pháp thế kỉ XX. Các tác phẩm của ông nổi tiếng với giọng điệu cay nghiệt, giận dữ. Loài người và Paris trong mắt Céline được miêu tả trần trụi, bẩn thỉu và thô lậu. Trích lời Phạm Công Thiện: “Céline mới đúng là cái “angoisse” (đau khổ) được nhập thể bằng xương bằng thịt. Tôi muốn quỳ lạy Céline như quỳ lạy sự thất bại của chính đời mình. Đúng Céline mới là kẻ bị “Sali, outragé, persécuté, braqué, broyé, depuis tant d’années et de mille manières…” (tạm dịch: bẩn thỉu, bị xúc phạm, bị bắt bớ, bị cướp bóc, bị chà đạp, trong bao nhiêu năm và bằng hàng ngàn cách…)
Emil Cioran: Triết gia người Romania, các tác phẩm của ông thường lấy đề tài hư vô, đau khổ, con người và sự suy tàn. Nổi tiếng với tác phẩm: “On the Heights of Despair” (tạm dịch: Trên đỉnh cao của tuyệt vọng).
[2]: J. P. Sartre: cha đẻ của thuyết hiện sinh. Một trong những người có sức ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến nước Pháp thế kỉ XX.
