Trang chủ Khuyến đọc AI LÀ NGƯỜI ÁM ẢNH PHẦN NHIỀU TRONG CÁC TÁC PHẨM CỦA VIRGINIA WOOLF?

AI LÀ NGƯỜI ÁM ẢNH PHẦN NHIỀU TRONG CÁC TÁC PHẨM CỦA VIRGINIA WOOLF?

Julia Stephen và Virginia vào năm 1884 (wikimedia.org)

Virginia Woolf đã trở thành tiểu thuyết gia một phần bởi vì, bằng cách phóng chiếu trí tưởng tượng, tiểu thuyết cho phép bà cảm thấy gần gũi với người mẹ đã khuất. Hình mẫu của Julia Stephen đã liên tục xuất hiện trong The Voyage Out (1915), Jacob’s Room (1922), To the Lighthouse (1927) và nhiều tiểu thuyết khác.


Woolf vốn rất tôn sùng Mẹ, nhưng giữa bối cảnh một gia đình phụ hệ đông con trai, Woolf không biết nhiều về Mẹ, về cuộc sống hằng ngày của bà theo cách chúng ta may mắn có được ở thời hiện đại.

Được sống gần gũi, gắn bó với Mẹ, được Mẹ chú ý là điều mà Virginia và Vanessa Stephen luôn khao khát nhưng không bao giờ có được. Suốt chiều dài tuổi thơ, cả hai đã chứng kiến 4 anh em trai mình đều có được mọi thứ đó, theo nhiều cách khác nhau và vào nhiều thời điểm khác nhau. Sự thiếu thốn tình cảm này đã đục khoét tình yêu thương của cả hai chị em, và họ đã phải chịu đựng nó suốt đời.

Từ lúc chập chững, Virginia đã là một đứa trẻ nhanh nhẹn, hoạt bát, mạnh mẽ và giàu tình cảm. Bằng cách gầm thét, khóc lóc, trèo ra gờ cửa sổ, bà làm mọi cách để thu hút sự chú ý; nhưng trong một gia đình gia thế sống ở số 22 Hyde Park Gate, điều này không diễn ra quá lâu. “Liệu tôi có thể nhớ mình từng ở một mình với mẹ hơn vài phút không?”, Woolf đã tự hỏi bản thân như thế, vì khi còn nhỏ, bà gần như rất vui mừng mỗi khi ốm, vì lúc đó Julia [mẹ] sẽ đến bên giường bệnh và chăm sóc cô con gái của mình.

Vào những thời điểm khác nhau, luôn có ai đó ngẫu nhiên xông vào nhà làm Julia phân tâm — có thể là anh chị em của bà, một vị khách, một người ăn xin, một người hầu, một con chó, hoặc là chồng bà! Woolf từng nói rằng Julia Stephen đã sống trong một nơi rộng lớn đến nỗi bà không còn thời gian và sức lực cho các cô con gái của mình. Trong bức ảnh của gia đình Stephen, Julia và Leslie ngồi cạnh nhau trên chiếc ghế dài và chăm chú đọc sách, cùng với khuôn mặt Virginia bé nhỏ ló ra phía sau lưng, tượng trưng cho cách Virginia tương tác với cha mẹ mình — vừa thân thuộc vừa bị làm ngơ.

Trong hồi ký ‘Số 22 Hyde Park Gate’, Woolf từ chối đổ lỗi cho mẹ mình. Khi còn nhỏ, bà tôn thờ Mẹ, và khi trưởng thành, bà vẫn thế — Mẹ, đối với Virginia, là một người phụ nữ nhanh nhẹn, hài hước, quyết đoán, tháo vát và cực kỳ xinh đẹp. Virginia vẫn nhớ cuộc sống với Mẹ trong 13 năm đầu đời là niềm hạnh phúc tột bậc. Đó là thứ hạnh phúc tuy có thể buồn tẻ, có thể nhàm chán như những chuyến đi bộ hàng ngày khi đông về ở khu vườn Kensington, hay có thể đau đớn như những chuyến thăm nha sĩ, hoặc có thể rất vui vẻ như những chuyến nghỉ hè hàng năm của cả gia tộc đến St. Ives ở Cornwall, nhưng niềm hạnh phúc đó luôn hiện hữu. “Những gì tôi nhớ về Mẹ quả là một mớ bòng bong, nhưng tất cả mớ bòng bong ấy đều thuộc về bà ấy; thuộc về những thứ xung quanh bà ấy, chính bà ấy là người tạo ra một thế giới sống động và hoan hỉ cho tuổi thơ tôi.”

Nhưng sau đó, vào năm 1895, Julia Stephen đột ngột qua đời ở tuổi 49, thế giới hoan hỉ đó bỗng biến mất. “Trong thời kỳ đen tối đó, phần lớn thời gian chúng tôi ngồi quây quần bên nhau, mọi thứ bỗng chốc hư ảo, nó lồng vào bầu không khí nghiêm trang, và dưới một làn khói xúc cảm nặng nề… một mối đe dọa vô hình nào đó đã chạm đến chúng tôi.” Đối với Virginia, cái chết của Mẹ vẫn luôn là viễn cảnh bi thảm nhất. Bà sau đó bị chấn thương tâm lý và trở nên quẫn trí, những ký ức quý giá của bà về Mẹ đều là về một Julia ngoan đạo, toàn bộ được lưu giữ trong tập kỷ niệm ‘Mausoleum Book’ mà cha bà đã tập hợp lại nhằm “khai sáng” cho các anh chị em trong nhà.

Mãi đến năm 1909, Woolf mới có thể bắt đầu gạt bỏ hình ảnh Julia Stephen khỏi tập sách mà Leslie Stephen đã “gầy dựng”, và đến khi xuất bản Đến ngọn hải đăng (To the Lighthouse), bà mới có thể trút bỏ được hồn ma của mẹ mình. Vào thời điểm đó, với những bác bỏ quá khứ khắc nghiệt thời Victoria của Anh quốc, Julia Stephen, theo nhiều cách khác nhau, được xem là hiện thân của các giá trị thời kỳ đó. Vào cuối những năm 1920, khi mọi việc đã quá rõ ràng, Virginia đã chấp nhận rằng mẹ bà đã phải chết trẻ. Song song với điều đó, liệu có ai trong chúng ta có thể thể tưởng tượng được viễn cảnh Julia Stephen cho phép một người Do Thái vô sản như Leonard Woolf đến gần một trong những cô con gái của mình không?

Việc nói rằng Virginia Woolf sinh ra trong một gia đình phức tạp là một cách nói cường điệu. Nếu bỏ qua thời đại Victoria — thời của những tấm ốp gỗ vàng đen, của những tấm rèm nhung đỏ thẫm che mất ánh sáng, của những người hầu nhộn nhịp bước ra khỏi tầng hầm phụ với bộ ấm trà bằng bạc và trở lại hầm với những chậu đựng đầy nước tiểu — chúng ta sẽ nhận ra ngay đây là một gia đình hiện đại của thế kỷ 21.

Đầu tiên, chúng ta có Leslie và Julia, cả hai đều bận rộn, đều khá giả, đều sở hữu một ngôi nhà trong thị trấn, có thể thuê một ngôi nhà nghỉ mát ven biển và chi trả cho 7 người hầu ở cùng, đó là chưa kể đến người giúp việc giặt giũ và làm vườn, song họ vẫn cảm thấy mình kém cỏi so với người thân và bạn bè. Cả hai đã từng kết hôn trước đó, và họ mang thứ tình cảm nặng nề ấy vào cuộc hôn nhân này, cùng 4 người con George, Stella, Gerald Duckworth và Laura Stephen. Khi 4 đứa trẻ tranh quyền thừa kế, mọi thứ thực sự trở nên căng thẳng. Nhà Stephen và Duckworth có rất ít điểm chung, nhưng oái ăm là tất cả đều sống trong cùng một ngôi nhà, và 10 người lại được đóng khung trong một đại gia đình gồm những người họ hàng đáng sợ, đó là chưa kể tới người mẹ chồng khó tính.

Việc nói rằng Julia Stephen quần quật chuyện gia đình là một cách nói cường điệu. Bà kết hôn với Leslie Stephen và mang thai sau đó, và khi đứa con thứ tư Vanessa chào đời, bà đã không còn phủ nhận việc sinh con đau đớn và làm bà yếu sức đến dường nào. Trong 4 năm tiếp theo, bà sinh thêm ba đứa trẻ, mỗi đứa trẻ rõ ràng đã làm hao mòn sức khỏe của bà. Tuy nhiên, nỗi lo lớn nhất của Julia không phải nằm ở 7 đứa con hay là Laura, mà là chồng bà, một đứa trẻ lớn xác và sẽ chẳng bao giờ rời đi.

Sự thánh thiện của Julia tỷ lệ thuận với độ xấu tính của Leslie, vì ngay cả trong thời đại mà những người vợ phải hy sinh bản thân để phục vụ chồng, bạn bè và người thân của Julia Stephen vẫn coi chồng bà là một người cực kỳ khó tính. Trong The Voyage Out, với các nhân vật Ridley và Helen Ambrose, Virginia Woolf lần đầu tiên gợi lại cuộc hôn nhân của cha mẹ bà. Helen được khắc họa trong nỗi xót xa ở đoạn đầu tiểu thuyết. Cô biết mình sẽ phải bỏ lại 2 đứa con bé nhỏ hàng năm trời và giao chúng cho người bảo mẫu truyền giáo mà cô không tin tưởng. Nhưng với tình thương và trách nhiệm gia đình, chúng ta sẽ không ngừng tự hỏi liệu Helen Ambrose có lên đường đến Nam Mỹ hay không.

Theo tiến triển của cốt truyện, người chồng học giả của Helen, Ridley, đã làm việc quá sức và cần một kỳ nghỉ, ông mong muốn tìm đến họ hàng ở Nam Mỹ của mình nhưng sẽ không sao xoay sở được khi không có vợ bên cạnh.

Trong những trang đầu của cuốn sách, vào ngày đầu tiên trên biển, chúng ta thấy Ridley bước vào buồng học rồi đột nhiên trở nên run rẩy vì lo âu và oán giận. Chiếc bàn thì lắc lư, ghế thì không đủ cao, và cửa ra vào thì lộ một kẽ hở to đùng. Helen đã đẩy Ridley ra ngoài, tìm một bộ bàn ghế mới từ đoàn thủy thủ, sau đó quỳ xuống nhét một mảnh vải dày ở tấm chắn cửa để chân chồng cô không phải lạnh vì gió biển.

Cảm thấy mọi thứ đều ổn trong thế giới của mình, Ridley Ambrose một lần nữa say sưa chuẩn bị cho một ấn bản mới của nhà thơ Hy Lạp Pindar, tuy nhiên, sự thật là không có nó thì thế giới vẫn quay. Ở cuối tiểu thuyết, trong lúc cô cháu gái Rachel hấp hối, tất cả những gì Ridley có thể làm là khiến người vợ đang kiệt sức của mình và mọi người trong nhà phát điên bằng những vần thơ và những điệu ballad. Leslie Stephen đã thuộc lòng rất nhiều bài thơ từ khi còn nhỏ, ông nổi tiếng trong gia đình và bạn bè vì điều đó, đặc biệt là khi về già và mắc chứng lãng tai, ông luôn đọc to và ngâm nga những giai điệu cổ.

Trong The Voyage Out, nỗ lực phục vụ chồng khi đi nghỉ mát của Helen Ambrose cho chúng ta biết về độ phức tạp của công việc nội trợ “máy móc” tại số 22 Hyde Park Gate. Ví dụ như, mỗi buổi sáng, nước phải được mang lên lầu và đổ đầy bồn tắm cho chủ nhân, vì ông ta không muốn dùng chung phòng tắm đơn với các thành viên khác trong gia đình. Sau bữa sáng, Leslie Stephen lui về căn phòng ở tầng năm để nghiên cứu từ điển và tài liệu hàn lâm. Thứ âm thanh khi sách chạm bàn là dấu hiệu cho thấy ông đang làm việc, căn nhà bận rộn bắt buộc phải giữ yên tĩnh trong suốt thời gian đó. Một trong những người hầu phải đi lên thường xuyên nhưng không được gây tiếng động, người này phải dọn dẹp chậu đựng nước tiểu của ông ta, vì nếu phải đi xuống nhà vệ sinh ở các tầng dưới ông ta sẽ phân tâm. Các bữa ăn được nữ chủ nhân lên kế hoạch cẩn thận để làm hài lòng khẩu vị và đường tiêu hóa của ông ta đều phải được phục vụ chính xác và đúng giờ.

Những yêu cầu về vật chất như vậy cần rất nhiều nỗ lực, nhưng Julia là một người quản lý gia đình hoàn hảo, mọi việc đều đâu vào đấy. Cùng với sự cật lực của bà Stephen là cảm giác tội lỗi không sao chữa được của ông Stephen. Chẳng phải ông ta chỉ là kẻ có trí tuệ trung bình thôi sao? Liệu có ai trong số những chàng trai trẻ như Maitland thực sự ngưỡng mộ ông ta không? Liệu tất cả các công trình của ông ta có bị lãng quên trong vòng 1 năm sau khi ông qua đời? Chỉ có Julia mới có thể chống cự những nỗi kinh hoàng về đêm này, nhưng cuối cùng khi Leslie chìm vào giấc ngủ, bà thường thức trắng trong mệt mỏi và lo lắng.

Và tiếp đến là tình dục, một chủ đề không được nêu ra trong nhà Stephen hay Từ điển Tiểu sử Quốc gia. Tình dục cũng là một vấn đề mà Virginia Woolf đã nêu lên trong nhiều câu chuyện xoay quanh cuộc hôn nhân của cha mẹ bà. Riêng với Virginia, tình dục thường xuyên xuất hiện trong thư từ của bà, nhưng bà hiếm khi thực sự thỏa mãn về nó trong đời thực. Việc từ chối những giá trị lỗi thời thời Victoria là một chuyện, còn việc tưởng tượng cảnh cha và mẹ bà trên giường là chuyện hoàn toàn khác.

Tuy nhiên, đối với Julia Stephen, một người phụ nữ đã hạ sinh 7 người con cùng 2 người chồng trong vòng chưa đầy 10 năm và rồi chết mòn ở tuổi 49, tình dục đối với bà một việc rất hiển nhiên nhưng chẳng bao giờ đề cập đến. Leslie Stephen là một người đàn ông cao lớn, khỏe mạnh, xuất thân từ dòng dõi có tham vọng, một quý ông nổi bật khi sánh bước cùng những phụ nữ trẻ đẹp và đồng thời có thể rất thô lỗ với phụ nữ lớn tuổi hay xấu xí, một người đàn ông có thể đánh bạo một lần đến rạp hát để liếc mắt đưa tình với Lillie Langtry. Leslie đã khao khát Julia từ khi bà còn là thiếu niên, và nỗ lực đưa bà lên giường chắc hẳn đã khiến ông vui sướng. Về phần mình, Julia nhận thấy rằng quan hệ tình dục là một cách chắc chắn để khiến chồng bà lấy lại bình tĩnh và dễ ngủ hơn. Và sau cùng, ta tự hỏi liệu một người phụ nữ có thể tìm cách nào tốt hơn để củng cố lòng tự trọng và xoa dịu những lo lắng về địa vị và tài sản của một người đàn ông hơn là sinh cho ông ta 4 đứa con khỏe mạnh, xinh đẹp, sáng sủa không?

Julia 32 tuổi khi kết hôn với Leslie Stephen. Khi nhiều phụ nữ ở độ tuổi 30, 40 đang ở “đỉnh cao của tình dục”, Julia trước đó đã sống không tình dục trong 9 năm. Có lẽ cũng như chồng, bà cũng hăm hở với khoái lạc và giải tỏa căng thẳng mà tình dục mang lại. Bức chân dung Woolf khắc họa cha mẹ bà trong vai ông bà Ambroses trong The Voyage Out và ông bà Ramsays trong To the Lighthouse đã gợi mở về một mối quan hệ tình dục hạnh phúc cũng như tình bạn tri thức giữa Leslie và Julia. Có lẽ họ đã có một khoảng thời gian vui vẻ với tình dục, nhưng chúng ta không thể chắc chắn. Những gì chúng ta biết là cách cư xử của Julia trong cuộc hôn nhân thứ hai rất khác so với cuộc hôn nhân đầu tiên, nếu không tính đến những lời bộc bạch riêng tư kiểu Bloomsbury giữa các hai người.

Theo những bức thư Leslie Stephen tìm thấy sau khi bà qua đời, cuộc hôn nhân 3 năm của Julia với Herbert Duckworth giống như một chuyến tuần trăng mật kéo dài. Bạn bè và gia đình bà kể lại rằng, ngay cả khi đang mang thai hay cho con bú, Julia Duckworth vẫn bám chặt người chồng luật sư của mình, bà đi đến tòa án lưu động cùng ông nếu có thể, bà mòn mỏi đợi trông khi ông đi vắng. Mẹ và các chị gái của bà, những người bà yêu thương và dành hết sự quan tâm, cũng phải tuân theo những đòi hỏi của chồng như thế. Tuy nhiên, trong cuộc hôn nhân thứ hai, đặc biệt là trong 10 năm đầu tiên, Julia đã quản lý cuộc sống của mình theo một cách rất khác. Thời gian đó Julia thường vắng nhà trong những chuyến thăm họ hàng, bạn bè ở xa và những nhu cầu, những đòi hỏi của chồng con bà thì không hề bị phụ thuộc vào đại gia đình hay bạn bè của bà.

Hãy nhớ rằng Julia Stephen không rời bỏ gia đình vì vui thú cá nhân – bà không rời bỏ họ để đi nghỉ mát hay để ngâm mình trong suối nước nóng, như cách mẹ bà vẫn thường làm. Julia Stephen bỏ nhà đi để làm những việc lặt vặt như thăm viếng những người bà yêu thương đang đau đớn đối diện với cái chết, và trong thời kỳ mà bệnh viện là nơi của những kẻ bần cùng và các viện tư nhân chỉ dành cho những người điên loạn, thì không ai mảy may thắc mắc vì sao bà làm thế. Những người ốm đau khá giả trong những thập kỷ cuối của thế kỷ 19 vẫn ở trong nhà của họ, vẫn nhận các cuộc gọi từ bác sĩ và được chăm sóc tận giường bởi những người họ hàng nữ và những người hầu được trả lương. (Một ví dụ điển hình là trường hợp của Sarah Gamp, cô y tá say xỉn, trộm đạo giường bệnh trong tác phẩm ‘Martin Chuzzlewit’ của Dickens)

Trong một gia đình u ám đầy bệnh tật, không ai có thể biến sự hỗn loạn thành trật tự nhanh hơn Julia Stephen. Nếu cần, bà ấy sẵn sàng làm những công việc như bưng chậu đựng nước tiểu, lau chất nôn, thay ga trải giường bẩn – những thứ mà ngày nay, chúng ta đều giao cho những người dọn dẹp chuyên nghiệp. Và khi mọi thứ đi vào vô vọng, Julia Stephen sẽ ngồi cạnh một người đang hấp hối, nắm tay, cố kìm nước mắt cho đến khi thi thể anh ta được rửa sạch và đủ tươm tất cho các thủ tục mai táng sau đó. Bà đã làm điều này nhiều lần, điều đó khiến bà trở thành một nữ anh hùng hay một vị thánh, mặc dù “thánh” là một từ khá mỉa mai đối với nhà Stephen.

Năm 1883, bạn bè và người thân của Julia Stephen thuyết phục bà xuất bản quyển Nhật ký giường bệnh (Notes from Sickroom), trong đó bà đưa ra lời khuyên về cách chăm sóc đúng cách cho những người thân ốm yếu. Lời khuyên của Julia thực tế và dễ hiểu, đồng thời các công việc đó đòi hỏi rất nhiều công sức. Bà viết, người bệnh luôn đòi hỏi sự yên tĩnh và gọn gàng, quần áo phải được giặt sạch, đồ ăn phải ngon và bổ dưỡng và tấm lót giường phải êm ái. Theo Julia, thậm chí những hạt vụn nhỏ nhất cũng sẽ gây khó chịu và đau khổ cho người bệnh. Xét cho cùng, người chăm sóc phải quan sát kỹ người bệnh để đảm bảo rằng nhu cầu của họ được đáp ứng, đồng thời cân nhắc mong muốn, sở thích và thói quen cụ thể của họ.

Theo những gì Julia Stephen không đề cập trong Notes from Sickroom, bà không tin vào phép màu cũng như không đặt nhiều niềm tin vào bác sĩ và y học. Rốt cuộc thì, giới bác sĩ đã bất lực trong việc cứu sống Herbert Duckworth và Minny Thackeray Stephen. Giống như Florence Nightingale, tác giả cuốn Nhật ký Điều dưỡng (Notes on Nursing), Julia biết rằng ngay cả sự chăm sóc tận tâm và chu đáo nhất thì vẫn chưa đủ, vai trò của một y tá gia đình là phải luôn sẵn sàng hỗ trợ và yêu thương bệnh nhân của mình trong những ngày cuối cùng của họ.

Vì Julia Stephen không tin rằng khi chết đi, con người sẽ đến một thế giới mới tốt đẹp hơn, quan điểm này khác với quan điểm của Nightingale ở thế kỷ 19 hay Mẹ Theresa ở thế kỷ 20, bà từ chối đem đến viễn cảnh thiên đường và đoàn tụ người thân để an ủi người sắp chết. Và đối với những người cho rằng chỉ có những nhà tu hành mới có thể được giao phó việc chăm sóc những người sắp chết, Julia đã đáp lại rằng, “Vì đây là cuộc đời duy nhất mà chúng ta có, việc giúp người khác xoa dịu nỗi đau và ra đi thanh thản là nhiệm vụ tối cao của phụ nữ.” Đây là tôn chỉ của Julia và bà đã sống với nó đến cuối đời.


Bài viết lược dịch từ: https://lithub.com/virginia-woolfs-mother-haunts-much…/…

Trích từ quyển ‘Virginia Woolf: And the Women Who Shaped Her World’ của Gillian Gill.